cialisfrance24.com
viagra-50-online-store.com

Châu Á Thái Bình Dương đối mặt với thách thức về năng lượng

PDF. In Email

Thứ hai, 02 Tháng 6 2014 14:49   |  Số truy cập: 1600

Là một trong những khoản chi tiêu lớn nhất của doanh nghiệp, điện năng chiếm một phần ba tổng chi phí hoạt động, tuy nhiên cũng là khoản chi tiêu có thể điều chỉnh được. Nếu doanh nghiệp có sự lựa chọn thông minh, sử dụng các thiết bị tiết kiệm điện và công cụ quản lý điện toàn diện, có thể tiết kiệm đến 30%.

Chuyển sang CNTT xanh và hiệu quả là một trong những xu hướng chính của các doanh nghiệp trong năm mới, đặc biệt ở khu vực châu Á–Thái Bình Dương. Nhu cầu CNTT gia tăng khiến năng lượng tiêu thụ trong các TTDL ngày càng lớn. Hãng phân tích Frost & Sullivan lưu ý, hơn 80% các TTDL lớn ở châu Á–Thái Bình Dương đang hoạt động với 90% công suất. Trong lúc các công ty đang phải vật lộn để đối phó với những nhu cầu thay đổi hằng ngày, công suất của TTDL vẫn dậm chân tại chỗ do thiết bị kém hiệu quả và tình trạng thiếu điện năng.

Là một trong những khoản chi tiêu lớn nhất của doanh nghiệp, điện năng chiếm một phần ba tổng chi phí hoạt động, tuy nhiên cũng là khoản chi tiêu có thể điều chỉnh được. Nếu doanh nghiệp có sự lựa chọn thông minh, sử dụng các thiết bị tiết kiệm điện và công cụ quản lý điện toàn diện, có thể tiết kiệm đến 30%. Điều này giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh nhờ tiết kiệm được chi phí sản xuất.

Quản lý năng lượng

Có thể thấy ngày càng nhiều ngân sách đang được đầu tư vào công nghệ và cơ sở hạ tầng cho việc quản lý năng lượng. Điển hình là nhu cầu ứng dụng ngày càng nhiều công cụ quản lý cơ sở hạ tầng trung tâm dữ liệu (DCIM), mô hình mô-đun và các giải pháp plug-and-play. Theo dự đoán của Frost & Sullivan, chi tiêu cho DCIM tăng hơn 20% trong năm 2013, với doanh thu hàng năm sẽ đạt 690 triệu USD vào năm 2016.

Tuy nhiên, tại một số nơi, sự am hiểu về quản lý hiệu quả năng lượng vẫn chưa cao, đặc biệt ở khu vực châu Á, nơi có rất nhiều doanh nghiệp vẫn chưa ý thức đầy đủ về việc này. Hiệu quả năng lượng trong TTDL ở một số quốc gia châu Á, đặc biệt là các nước đang phát triển khu vực Đông Nam Á, đang tụt hậu do ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ sở hạ tầng kết nối Internet kém (Indonesia), nguồn điện không ổn định và năng lực cung cấp điện thấp (Malaysia), thiếu các tiêu chuẩn phát triển (Việt Nam). Các quốc gia khác như Singapore, Úc và Hong Kong tuy có mức phát triển tốt hơn nhưng vẫn không tránh khỏi những thách thức.

Nhu cầu về dữ liệu và chi phí năng lượng đang gia tăng là hai trong số những thách thức lớn mà các TTDL ở thị trường Châu Á–Thái Bình Dương đang phải đối mặt hiện nay.

Những thách thức về hiệu quả năng lượng

So với các quốc gia mới nổi như Thái Lan và Indonesia, Singapore là thị trường đã phát triển khá mạnh về công nghệ. Từ năm 2005, Hiệp hội IDA Singapore đã triển khai kế hoạch iN2015 để phát triển ngành CNTT–Truyền thông và xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT. Điều này đã thúc đẩy nhiều công ty xây dựng TTDL của họ sớm hơn trong gần một thập kỷ qua.

Hiện nay, hiệu quả năng lượng đang là thách thức chính đối với các TTDL truyền thống. Do sử dụng cơ sở hạ tầng cũ kỹ, khi cố gắng bắt kịp nhu cầu về dữ liệu và công nghệ mới như ảo hóa, các TTDL này sẽ tiêu thụ lượng điện nhiều hơn, khiến chỉ số hiệu quả năng lượng (PUE) tăng cao hơn. Bên cạnh đó, ở các doanh nghiệp truyền thống, năng lượng dùng trong TTDL vốn không được xem như một khoản chi phí riêng. Trên thực tế, chi phí năng lượng tiêu thụ trong một đời TTDL có thể cao hơn nhiều so với chi phí đầu tư hệ thống điện năng, và cao hơn chi phí đầu tư các thiết bị CNTT khác. Về cơ bản, chi phí OPEX có thể cao hơn chi phí đầu tư thiết bị trong vòng vài năm.

Một tác nhân khác ảnh hưởng đến hiệu quả năng lượng chính là thiết kế thừa tải, vượt quá nhu cầu cần thiết. Đây là sự lãng phí mà hầu hết người dùng khó phát hiện. Từ góc nhìn đầu tư, rất dễ thấy được việc triển khai hệ thống điện và làm mát cao hơn so với nhu cầu là điều lãng phí. Nhưng để xác định sự thừa tải có làm giảm hiệu suất của toàn bộ hệ thống và khiến lượng điện tiêu thụ luôn vượt mức hay không, lại không dễ như vậy. Hầu hết mọi người dùng không biết rằng, bất kể thời điểm hệ thống IT có hoạt động hay không, vẫn luôn tồn tại những thất thoát cố định về điện và làm mát. Những thất thoát này tỉ lệ thuận với tổng công suất điện của hệ thống.

Trên đây là những khoản tiêu thụ năng lượng chủ yếu ở các cơ sở hạ tầng vật lý TTDL (DCPI) điển hình. Trong những triển khai có ít thiết bị IT, thất thoát cố định của thiết bị DCPI thường vượt quá nhu cầu của hệ thống IT. Bất cứ nơi nào hệ thống DCPI thiết kế thừa tải, chi phí thất thoát cố định sẽ chiếm tỉ lệ lớn trong hóa đơn tiền điện, đồng nghĩa khách hàng tiêu tốn nhiều CAPEX/OPEX một cách lãng phí.

Năm 2014, cần làm gì?

Một giải pháp quản lý năng lượng hiệu quả và toàn diện sẽ giúp nâng cấp hệ thống CNTT. Các chuyên gia điều hành CNTT cao cấp cần phối hợp chặt chẽ với các đồng nghiệp quản lý cơ sở hạ tầng để đưa ra một chiến lược quản lý năng lượng toàn diện. Họ cũng cần đẩy mạnh các bước tiếp cận toàn diện và chi tiết cho việc quản lý chiến lược và năng lượng trung tâm dữ liệu, cũng như tìm kiếm những giải pháp ảo hóa server hoặc DCIM.

Để đạt hiệu quả năng lượng và có được những trung tâm dữ liệu đáng tin cậy nhằm đối mặt với nhu cầu dữ liệu đang tăng theo cấp số nhân từ những thành phố thông minh, doanh nghiệp cần có bước tiếp cận toàn diện và chi tiết vào chiến lược trung tâm dữ liệu.

Lưu Lê Qui Nhơn

Theo Datacenter Dynamics

 

DMCA.com Protection Status


Các bài viết khác

ABB
Brady
CommScope
Emerson
Fluke Network
Fredton
Vietrack